Giới thiệu Đơn vị đo mật độ xương

  1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Được sự đồng ý của Ban Giám đốc Bệnh viện, Đơn vị Đo mật độ xương thành lập và đi vào hoạt động chính thức từ ngày 20/08/2018

  1. NHÂN SỰ

                      1. TS.BS Nguyễn Hoàng Thanh Vân: Trưởng Đơn vị

                      2. TS.BS Hồ Duy Bính

                      3. PGS.TS.BS Lê Nghi Thành Nhân

                      4. ThS.BS Lê Thị Hồng Vân

                      5. CN.ĐD Trương Hữu Hùng

  1. KĨ THUẬT ĐO MẬT ĐỘ XƯƠNG

1. Đo mật độ xương là gì?

Đo mật độ xương là tiêu chuẩn quan trọng để xác định xem bạn có bị loãng xương hay không. Loãng xương là một bệnh với đặc điểm khối lượng xương suy giảm, vi cấu trúc của xương bị hư hỏng, dẫn đến tình trạng xương bị yếu và hệ quả là tăng nguy cơ gãy xương.

     Đo mật độ xương ở các vị trí trung tâm như xương vùng khớp háng hoặc cột sống thắt lưng, để chẩn đoán xác định loãng xương, đánh giá mức độ loãng xương, dự báo nguy cơ gãy xương và theo dõi điều trị.

 

                   2. Máy đo mật độ xương

Kỹ thuật được thực hiện trên máy đo mật độ xương MEDIX DR sản xuất tại Pháp năm 2017, với tiêu chuẩn ISO 9001: 2008, CE, bằng phương pháp đo hấp phụ tia X năng lượng kép - phương pháp DEXA (Dual Energy X-ray Absorptiometry), đo được các vị trí và đối tượng:

          - Đo đa vùng gồm các vị trí như: cổ xương đùi, cột sống thắt lưng, xương cẳng tay, cột sống nghiêng.

          - Đo toàn thân.

          - Đo tại các vùng có cấy ghép dụng cụ chỉnh hình.

          - Đo cho trẻ em.

               3. Chỉ định và chống chỉ định đo mật độ loãng xương bằng phương pháp DXA

  a. Chỉ định

-  Phụ nữ ≥ 65 tuổi và nam giới trên 70 tuổi.

- Tất cả phụ nữ sau mãn kinh có gãy xương mà không do chấn thương mạnh hay hình ảnh thiếu xương trên X quang, hay bắt đầu uống liệu pháp corticoid ≥ 3 tháng.

- Những phụ nữ trong giai đoạn quanh hay sau mãn kinh có yếu tố nguy cơ loãng xương cần xem xét chỉ định dùng thuốc như phụ nữ có BMI< 20kg/m2­­, sử dụng corticoid ≥ 3 tháng, tiền sử gia đình gãy xương do loãng xương, mãn kinh sớm < 40 tuổi, đang hút thuốc, uống rượu quá mức….

- Bệnh nhân mắc các bệnh lý mạn tính: bệnh chuyển hóa, nội tiết, bất động lâu ngày, thiếu hụt hoặc giảm hấp thu Vitamin D, bệnh gan mạn tính, suy thận mạn…..

- Bệnh nhân sau phẩu thuật khớp.

- Bệnh nhân có biến dạng xương khớp bẩm sinh hoặc mắc phải.

- Những trẻ em có yếu tố nguy cơ hoặc tiền sử mắc các bệnh lí xương mạn tính.

b. Chống chỉ định

              - Phụ nữ có thai.